Giá trị của tấm bằng ĐH thời AI
Học giả Chevening Lê Hoàng Phong, tốt nghiệp thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục University College London (Anh), nói với Thanh Niên rằng bằng ĐH không phải một vật thể có giá trị cố định để hôm qua đắt giá, còn hôm nay mất giá. Đó là một thiết chế xã hội, một tín hiệu thị trường lao động, một quá trình tích lũy năng lực, một cơ chế phân tầng xã hội và một không gian mở rộng khả năng con người.

Thí sinh trúng tuyển làm thủ tục đăng ký nhập học vào ĐH. Giá trị bằng ĐH trong thời AI phải là minh chứng cho thấy người học đã phát triển được tổ hợp năng lực khó bị thay thế
ẢNH: NHẬT THỊNH
"Nên khi AI thay đổi cách con người sản xuất, xử lý và sử dụng tri thức, điều bị thách thức không đơn thuần là tấm bằng mà là toàn bộ lý thuyết xã hội đứng sau nó", ông nói.
Theo ông Phong, cần phân biệt các lớp giá trị của tấm bằng ĐH. Tấm bằng có giá trị kinh tế vì có thể giúp người học tiếp cận nhiều công việc phức tạp hơn, có năng suất cao hơn và có cơ hội thu nhập tốt hơn. Bằng ĐH cũng có giá trị như một tín hiệu vì doanh nghiệp (DN) nhìn vào tấm bằng để suy đoán rằng sinh viên (SV) đã trải qua một quá trình học tập, rèn luyện, đánh giá nhất định.
Song tấm bằng ĐH không chỉ vận hành trong thị trường lao động mà còn có giá trị xã hội, vì với nhiều gia đình, ĐH vẫn là một trong những con đường quan trọng để thay đổi vị thế sống. Sâu hơn nữa, ĐH còn có giá trị nhân bản, vì một nền giáo dục ĐH đúng nghĩa không chỉ giúp người học kiếm việc mà còn mở rộng năng lực suy nghĩ, lựa chọn, tham gia vào đời sống xã hội...
Đó là lý do ông Phong nhận định thu nhập không thể là thước đo duy nhất để "định lượng" giá trị của tấm bằng ĐH - dù đây vẫn là chỉ dấu cần thiết vì người học và gia đình phải đầu tư nhiều năm tuổi trẻ, chi phí, kỳ vọng vào tấm bằng ấy. Theo ông, giá trị nhân văn của ĐH không đối lập với câu hỏi về chất lượng đầu ra, bởi nếu ĐH thật sự coi trọng con người thì phải có trách nhiệm chứng minh quá trình đào tạo giúp người học có cuộc sống tốt hơn.
Chính ở điểm này, AI làm cuộc tranh luận về tấm bằng ĐH trở nên sắc nét hơn. Trước đây, người có bằng ĐH sẽ thường được hiểu là có thể đọc, viết, xử lý thông tin, tuân thủ kỷ luật học thuật và hoàn thành quá trình học dài hạn. Nhưng khi AI có thể hỗ trợ nhiều khía cạnh, giá trị tín hiệu của tấm bằng không còn tự nhiên được chấp nhận như trước. "Xã hội và DN ngày càng có lý do để hỏi sâu hơn. Người học có bằng gì không còn đủ", ông nói.
Vì thế ông Phong nhận định AI không tự động làm tấm bằng ĐH mất giá mà làm rõ hơn điểm khác biệt giữa một tấm bằng "có nội dung" với một tấm bằng "rỗng". Giá trị của bằng ĐH trong thời AI không thể chỉ được hiểu như giấy xác nhận rằng người học đã hoàn thành một chương trình đào tạo, mà phải là minh chứng cho thấy người học đã phát triển được tổ hợp năng lực khó thay thế, ông Phong nhấn mạnh.
"Tái cấu trúc ĐH trong thời AI không nên được hiểu là chuyển nguồn lực một cách cơ học từ ngành cũ sang ngành mới. Câu hỏi đặt ra là tất cả ngành học phải được tái thiết kế ra sao để SV có thể hiểu, sử dụng, phán đoán trong một xã hội nơi công nghệ đã trở thành hạ tầng của tri thức, lao động, đời sống - và ngày càng được định hình mạnh mẽ bởi AI", ông Phong đặt vấn đề.
Ở góc nhìn hoạch định chính sách, ông Phong cho biết thêm cần xác định rõ chương trình đào tạo nào thực sự giúp SV phát triển năng lực có thể chuyển đổi, và chương trình nào chỉ duy trì nghi thức cấp bằng. Một chương trình chỉ tạo ra người làm bài thi tốt, viết đúng mẫu và tái hiện giáo trình quen thuộc khó đứng vững trong thời AI. Nhưng ngược lại, chương trình buộc SV đọc sâu hơn, hỏi khó hơn, làm việc với vấn đề thật, tranh luận trước nhiều quan điểm, hiểu bối cảnh xã hội và chịu trách nhiệm với phán đoán của mình sẽ không bị AI làm cho lỗi thời.
"Tấm bằng ĐH sẽ không còn được tin cậy chỉ vì được gọi là "bằng ĐH". Nó phải được tin cậy vì chứng minh được quá trình giáo dục thật sự", ông Lê Hoàng Phong nhấn mạnh.

Chương trình đào tạo chuyển đổi từ "biết kiến thức" sang "biết vận dụng kiến thức" là một trong những xu hướng giáo dục trước tác động của AI
ảnh: Hà Ánh
Thay đổi mô hình truyền thống
Trước đó, trao đổi với Thanh Niên bên lề chương trình tập huấn do Bộ GD-ĐT phối hợp tổ chức với Hội đồng Anh, APAIE cuối tháng 7, GS Nigel Healey, công tác ở Trung tâm Quản lý giáo dục bậc cao quốc tế (ICHEM), ĐH Bath (Anh), khẳng định trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm, con người ngày càng sống thọ và công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh, sẽ không còn phù hợp nếu nhận định rằng ĐH chỉ dành cho nhóm thanh niên ở độ tuổi từ 18 - 22.
Bởi trong tương lai, người học trẻ sẽ giảm, trong khi nhân lực lớn tuổi cần được tái đào tạo tăng cao. Những cải tiến của công nghệ cũng khiến việc học một tấm bằng để chuẩn bị cho cả sự nghiệp sẽ gặp nhiều thách thức. Khi đó, các ĐH phải tự đổi mới, tập trung nhiều hơn vào quá trình học tập suốt đời, nhất là qua các khóa học chứng chỉ vi mô cho phép quy đổi sang tín chỉ để người học có thể tích lũy đến khi đủ điều kiện được cấp bằng chính quy.
Ông Nigel Healey kỳ vọng một SV khi bước vào giảng đường sau 2-3 năm có thể tiếp cận với những môn học mà năm đầu tiên các bạn tới trường, những môn đó thậm chí chưa hề tồn tại. Đó là lĩnh vực mà DN có thể cùng tham gia với trường ĐH, đảm bảo SV vừa có độ sâu tri thức và kỹ năng, vừa có thể phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường lao động. Chưa kể, các trường cũng cần linh hoạt điều chỉnh để SV có thể tốt nghiệp nhanh hơn.
Còn tiến sĩ Janet Ilieva, sáng lập và điều hành Education Insight (Anh), cho biết mô hình giáo dục ĐH theo lộ trình truyền thống là học phổ thông, tốt nghiệp rồi vào ĐH sẽ bị "phá vỡ mạnh mẽ". Đó là bởi việc học hiện nay không nhất thiết vận động theo tuyến tính, mà linh động dựa trên cuộc sống của mỗi người cũng như nhu cầu của DN nói riêng và nền kinh tế nói chung.
GS May Tan-Mullins, Hiệu trưởng kiêm Giám đốc điều hành ĐH Reading Malaysia - phân hiệu của ĐH Reading (Anh) ở Malaysia, gợi ý rằng các ĐH có thể khám phá những mô hình đào tạo mới, chẳng hạn đào tạo và cấp bằng đa quốc gia (multi-country degrees). Khi đó, SV có thể học năm thứ nhất tại ĐH VN, năm thứ hai sang Thái Lan, năm thứ ba học ở Malaysia, sau đó quay về VN học năm cuối để tốt nghiệp. "Đây là mô hình đào tạo giới trẻ ngày nay rất quan tâm", GS nói.
5 xu hướng giáo dục quan trọng trước những tác động từ AI
Tiến sĩ Lê Bảo Thắng, Giám đốc Công ty tư vấn giáo dục quốc tế OSI Vietnam tại TP.HCM, thông tin ở khu vực Bắc Mỹ, các trường ĐH đang có 5 xu hướng giáo dục quan trọng trước những tác động từ AI.
Thứ nhất, năng lực thấu hiểu AI (AI literacy) đang dần trở thành nền tảng của mọi ngành học, từ kinh doanh, truyền thông, giáo dục đến y tế, chứ không chỉ khu biệt trong lĩnh vực công nghệ như trước.
Thứ hai, cách kiểm tra và đánh giá đang được thiết kế lại, tập trung nhiều hơn vào các hình thức trao đổi trực tiếp như thuyết trình, phản biện - kết hợp phản tư quá trình thực hiện như viết lại nhật ký.
Thứ ba, chương trình đào tạo chuyển đổi từ "biết kiến thức" sang "biết vận dụng kiến thức".
Thứ tư là tăng cường các hình thức giúp nâng cao trải nghiệm thật, như thực tập, hợp tác giáo dục với DN (co-op), học tập kết hợp thực tiễn (WIL)...
Thứ năm, giáo dục ĐH đang trở nên mô-đun hóa và linh hoạt hơn trước, khi bằng chính quy được kết hợp với chứng chỉ ngắn hạn, chứng chỉ vi mô, chứng nhận nghề nghiệp, hoặc chương trình học bổ sung... trong suốt sự nghiệp. Bởi kiến thức công nghệ có thể thay đổi nhanh hơn chu kỳ 4 năm của chương trình ĐH.










Bình luận (0)